Chiết khấu là gì? Có mấy loại chiết khấu hiện nay?

Chiết khấu (discount) nghĩa là giảm giá, thuật ngữ được dùng với nhiều nghĩa trong mỗi hoản cảnh khác nhau.

Trước khi tìm hiểu các loại chiết khấu, chúng ta cần hiểu giá bán được tính như thế nào?

Mỗi sản phầm đều có một mức giá chuẩn (Po), căn cứ vào đối tượng khách hàng ở thời điểm mua hàng, để khách hàng có một mức giảm trừ %, và có được giá bán cuối cùng (Ps)

• Po:  là giá bán lẻ ở thị trường

Công thức tính

• Ps = Po – CK1 – CK2 – CK3 – CK4 – CK5

• CK1 là chiết khấu 1 – lợi thế thương mại 1

chiết khấu là gì? discount là gì

Hiện nay, có 7 loại chiết khấu như sau:

  1. Chiết khấu thương mại (Trade discount - a fixed percentage offered to a distributor): Trong chuỗi phân phối thường sự dụng cụm từ này. Khuyến khích từ các nhà sản xuất dành cho siêu thị bán sản phẩm của mình, họ có thể tăng mức giảm giá cho siêu thị từ 5 % lên 15% so với giá trên sản phẩm.
  2. Chiết khấu bán buôn vì mua số lượng lớn - Bulk discount - a discount given to buyers purchasing a large amount. Ví dụ: Giảm giá cho khách sỉ đặt giày tại Shop Giày Thủy Trắng
  3. Giá bán lẻ thấp hơn để quảng bá sản phẩm - Promotional discount - a lower retail price for a special sale
  4. Giảm giá nếu thanh toán bằng tiền mặt - Cash discount - a discount for payment in cash:
  5. Chiết khấu tùy theo ngành nghề của người mua - Professional discount - a discount given to people in a particular field, for example when doctors pay a reduced price for medicine.
  6. Giảm giá cho nhân viên - Employee discount - a discount for staff
  7. Chiết khấu theo mùa - Seasonal discount - a reduced price offered on goods sold at the “wrong” time of the year, such as ski equipment in the summer.

Cách tính lãi xuất chiết khấu trong ngân hàng như thế nào?

Discount nghĩa là mua giấy tờ có giá ngắn hạn thấp hơn mệnh giá và thanh toán theo mệnh giá khi đến hạn cần thanh toán. Chiết khấu là một loại nghiệp vụ ngân hàng mà một ngân hàng trả trước kì hạn cho người có kì phiếu, Ví dụ như, số tiền ghi trên kì phiếu bớt đi một khoản khấu trừ gọi là tỉ suất chiết khấu hoặc là lãi suất chiết khấu. Lãi suất chiết khấu được tính theo tỉ lệ phần trăm (%) của mệnh giá.

Cách phân biệt “chiết khấu thương mại”, “giảm giá hàng bán” và “Chiết khấu thanh toán”.

Chiết khấu giá bán (CKg): Là chiết khấu theo % trên giá niêm yết dựa vào lợi thế thương mại của khách hàng. CKg là cơ sở để tính ra giá bán cho khách hàng đó (Ps)

Chiết khấu thương mại (CKtm): Là chiết khấu % hoặc đơn giá trên số lượng doanh số mua của KH tại lần mua đó hoặc cộng dồn trong một giai đoạn nào đó. CKtm được ghi nhận một dòng riêng, làm giảm doanh thu thuần, và được hạch toán kế toán vào TK Nợ 521.

Chiết khấu thanh toán (CKtt): Là chiết khấu % trên số tiền thanh toán sớm hạn của KH tại thời điểm thanh toán. CKtm được ghi nhận sau, làm tăng chi phí, hạch toán TK Nợ 635.

Công thức tính chiết khấu là gì?

Ngoài ý nghĩa là "giảm giá", chiết khấu (discounting) còn được hiểu là quá trình sử dụng lãi suất để tính giá trị hiện tại của các khoản thu hay phải trả trong tương lai. Ví dụ, nếu lãi suất (được dùng làm tỷ lệ chiết khấu) là 10% và khoản tiền sẽ thu được sau một năm là 11 triệu đồng, thì chúng ta có thể tính được giá trị hiện tại của khoản tiền 11 triệu đồng bằng cách lấy 11 triệu đồng chia cho (1+0,1) và được 10 triệu đồng.

Công thức tổng quát để chiết khấu các khoản tiền thu được hoặc phải trả tại thời kỳ t trong tương lai là: St/(1+r)t, trong đó St là khoản tiền thu được hoặc phải trả vào thời kỳ t trong tương lai, r là tỷ lệ chiết khấu.

Bonus:  Chiết khấu đồng loạt của tất cả các cổ phiếu và trái phiếu khi mọi người dự kiến nền kinh tế sẽ bước vào thời kỳ suy thoái

Mua hối phiếu hay trái phiếu thấp hơn mệnh giá của nó. Hối phiếu và trái phiếu thường có một giá trị và kỳ hạn thanh toán vào một thời điểm cụ thể trong tương lai. Người mua đầu tiên mua hối phiếu và trái phiếu với giá thấp hơn giá trị danh nghĩa của nó theo một tỷ lệ chiết khấu nào đó. Tỷ lệ chiết khấu giữa giá phải trả và giá trị danh nghĩa của hối phiếu hay trái phiếu là lãi suất nhận được về khoản cho vay để đổi lấy vật đảm bảo là hối phiếu hoặc trái phiếu. Sau đó, nếu người sở hữu hối phiếu hoặc trái phiếu bán nó trước thời hạn (tức tái chiết khấu), anh ta có thể bán với giá thấp hơn giá trị danh nghĩa của nó, mặc dù cao hơn mức ban đầu phải trả. Mức chênh lệch giữa giá ban đầu phải trả và giá nhận được phụ thuộc chủ yếu vào khoảng thời gian trước khi đến hạn. Ví dụ, nếu một trái phiếu có giá danh nghĩa là 10.000 đồng có thời hạn thanh toán một năm được mua với giá 9.000 đồng, thì 1.000 đồng chiết khấu so với giá phải trả khi mua biểu thị lãi suất (= tỷ lệ chiết khấu) là 1000/9000 = 11,1% đối với khoản cho vay đó.

Mức giảm tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại tệ so với tỷ giá hối đoái chính thức trong hệ thống tỷ giá hối đoái cố định.

Tác giả: Chợ Tốt DakLak 24h - HPTrade
Sale off